BẢN TIN CẬP NHẬT VỀ HIỆN TƯỢNG ENSO VÀ NHẬN ĐỊNH XU THẾ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN TỪ THÁNG 8 NĂM 2020 ĐẾN THÁNG 01 NĂM 2021



1. Hiện tượng ENSO
Dự báo khả năng ENSO sẽ tiếp tục duy trì ở trạng thái trung tính nhưng vẫn nghiêng về pha lạnh trong khoảng một, hai tháng tới; sau đó nhiệt độ mặt nước biển tại khu vực trung tâm Thái Bình Dương (khu vực Nino3.4) tiếp tục lạnh hơn và có khả năng chuyển sang trạng thái La Nina vào các tháng cuối năm 2020 và đầu năm 2021 với xác suất xảy ra khoảng 60%, nhưng có cường độ yếu và ít có khả năng kéo dài.
2. Bão/ATNĐ và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm
Dự báo, số lượng bão và ATNĐ hoạt động trên khu vực Biển Đông và ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta trong nửa cuối năm 2020 có khả năng ở mức xấp xỉ so với TBNN. Cụ thể: Có khả năng xuất hiện khoảng 9-11 cơn bão và ATNĐ hoạt động trên khu vực Biển Đông, trong đó có khoảng 05-06 cơn ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta, tập trung nhiều ở khu vực Trung Bộ và phía Nam trong những tháng cuối năm 2020.
Đề phòng khả năng xuất hiện các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như dông, sét, lốc, mưa đá trên phạm vi toàn quốc; gió mạnh trên biển do tác động gió mùa Tây Nam vào thời kỳ tháng 8/2020 ở vùng biển phía Nam Biển Đông; gió Đông Bắc của không khí lạnh trên khu vực phía Bắc biển Đông vào tháng 12/2020.
3. Nhiệt độ
Trên phạm vi toàn quốc, nhiệt độ trung bình tháng 8, tháng 9/2020 phổ biến ở mức cao hơn TBNN cùng thời kỳ khoảng 0,5-1,00C; tháng 10, tháng 11 và tháng 12/2020, nhiệt độ toàn quốc ở mức xấp xỉ so với TBNN cùng thời kỳ. Tháng 1/2021 nhiệt độ toàn quốc phổ biến thấp hơn so với TBNN cùng thời kỳ từ 0,5-1,00C. 
Các đợt nắng nóng còn xảy ra trong tháng 8/2020 ở khu vực Bắc, Trung Trung Bộ và đầu tháng 8/2020 ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nhưng không gay gắt.
Không khí lạnh (KKL) có khả năng ảnh hưởng sớm, nền nhiệt trung bình mùa Đông năm 2020-2021 thấp hơn so với mùa Đông năm 2019-2020.
4. Lượng mưa
4.1. Khu vực Bắc Bộ
Tổng lượng mưa (TLM) tháng 8 và tháng 11/2020 phổ biến ở mức xấp xỉ TBNN cùng thời kỳ (riêng khu Tây Bắc tháng 11/2020 TLM thấp hơn TBNN 20-30%).
Tháng 9, tháng 10/2020, TLM phổ biến xấp xỉ so với TBNN (riêng khu Tây Bắc tháng 10/2020 TLM thấp hơn TBNN 20-30%).
 Tháng 12/2020 và tháng 01/2021, TLM phổ biến thấp hơn so với TBNN từ 15-30%.
4.2. Khu vực Trung Bộ
Tháng 8, tháng 9/2020 TLM ở mức xấp xỉ TBNN cùng thời kỳ.
Tháng 10/2020 TLM ở mức cao hơn TBNN từ 10-20% (riêng khu vực từ Thừa Thiên Huế đến Bình Định TLM cao hơn TBNN từ 20-40%)
Tháng 11/2020 khu vực từ Thanh Hóa đến Quảng Trị, TLM ở mức xấp xỉ TBNN, các nơi khác TLM cao hơn TBNN từ 15-25%.
Tháng 12/2020 khu vực từ Thanh Hóa đến Quảng Trị, TLM thấp hơn TBNN 10-20%; khu vực Thừa Thiên Huế-Bình Thuận TLM cao hơn TBNN 10-20%.
Tháng 01/2021 khu vực Bắc và Trung Trung Bộ TLM phổ biến thấp hơn TBNN từ 10-20%; riêng Nam Trung Bộ TLM cao hơn TBNN 20-40%.
4.3.Khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ
Tháng 8, tháng 9/2020 TLM ở mức xấp xỉ TBNN cùng thời kỳ.
Tháng 10/2020 khu vực Tây Nguyên TLM cao hơn TBNN 20-40%; khu vực Nam Bộ TLM cao hơn từ 5-15%.
Tháng 11/2020 khu vực Tây Nguyên TLM cao hơn TBNN 20-45%; khu vực Nam Bộ TLM ở mức xấp xỉ TBNN.
Tháng 12/2020 TLM phổ biến cao hơn TBNN từ 10-20%.
Tháng 1/2021 TLM phổ biến cao hơn TBNN từ 20-40% (riêng miền Tây Nam Bộ TLM cao hơn TBNN từ 45-55%).
5. Thủy văn
5.1. Bắc Bộ
Nguồn nước từ tháng 8-12/2020 và tháng 1/2021 trên các lưu vực sông tiếp tục thiếu hụt so với TBNN từ 30-40%, hạ lưu sông Lô và sông Hồng từ 40-70%.
Đỉnh lũ năm 2020 trên các sông phổ biến ở mức BĐ1-BĐ2, cao hơn năm 2019, riêng trên sông Thao, sông Hoàng Long và các sông suối nhỏ từ BĐ2-BĐ3. Mực nước hạ lưu sông Hồng tại Hà Nội và hạ lưu sông Thái Bình ở mức dưới BĐ1. Lũ quét, sạt lở đất có nguy cơ cao xảy ra tại khu vực vùng núi, đặc biệt khu vực Tây Bắc và Việt Bắc.
5.2. Khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên        
Nửa cuối tháng 7 đến tháng 8/2020, trên các sông từ Thanh Hóa đến Quảng Bình và khu vực Tây Nguyên có khả năng xuất hiện 02-03 đợt lũ vừa và nhỏ, đỉnh lũ có khả năng ở mức báo động (BĐ)1-BĐ2, trên một số sông suối nhỏ có khả năng lên trên BĐ2; mực nước các sông khác ở Trung Bộ biến đổi chậm.
Lượng dòng chảy trên các sông phổ biến ở mức thiếu hụt từ 30-65% so với TBNN, một số sông thiếu hụt trên 70%; trên một số sông có khả năng xuất hiện mực nước thấp nhất trong chuỗi số liệu quan trắc.
Trong thời gian này tình trạng khô hạn thiếu nước, xâm nhập mặn có khả năng lan rộng tại các tỉnh ven biển Trung Bộ ở mức tương đương mùa khô năm 2019, đặc biệt nghiêm trọng hơn ở ngoài vùng cấp nước của các công trình thuỷ lợi các tỉnh từ Quảng Trị đến Ninh Thuận.
Đỉnh lũ năm 2020, trên các sông ở khu vực Trung Bộ và Bắc Tây Nguyên có khả năng ở mức cao hơn năm 2019. Đỉnh lũ năm 2020, tại hạ lưu các sông chính ở Bắc Trung Bộ ở mức BĐ1-BĐ2, xấp xỉ đỉnh lũ TBNN; các sông từ Quảng Bình đến Bình Thuận và khu vực Tây Nguyên ở mức BĐ2-BĐ3, một số sông trên BĐ3, tương đương đỉnh lũ TBNN. Trên các sông suối nhỏ, vùng thượng lưu các sông khả năng xuất hiện lũ lớn, lũ quét và sạt lở đất.
5.3. Khu vực Nam Bộ
Lũ trên sông Mê Công đến muộn, từ cuối tháng 7-10/2020, tổng lượng dòng chảy trên các trạm thượng nguồn Mê Công có khả năng thiếu hụt so với TBNN từ 15-30%.
Đỉnh lũ năm 2020, ở đầu nguồn sông Cửu Long có khả năng ở mức BĐ1 - BĐ2, và có thể xuất hiện vào cuối tháng 9. Khả năng xuất hiện lũ lớn là không nhiều, tuy nhiên nguy cơ lũ lên nhanh hơn bình thường do mưa lớn trong thời gian ngắn có thể gây tác động tiêu cực đến vùng ĐBSCL.
Trong các tháng đầu mùa khô 2020-2021, mực nước đầu nguồn sông Cửu Long chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều. Xâm nhập mặn vùng cửa sông Nam Bộ sẽ cao hơn TBNN, nhưng nhiều khả năng không gay gắt như năm 2019-2020.
6. Hải văn
Trên vùng biển phía Nam cần đề phòng sóng cao từ 2,0-3,0m do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam.
Ven biển Nam Bộ sẽ xuất hiện 04 đợt triều cường cao vào các ngày 18-21/9, 15-19/10, 14-18/11 và 13-17/12 với độ cao triều cường có thể trạm mốc kỷ lục vào ngày 18/10/2020 trong trường hợp trùng với kỳ hoạt động của gió chướng sẽ gây ngập lụt cho khu vực ven biển Nam Bộ.

/NCHMF

Chi tiết tin